22 Tháng Sáu 2010 #

Muối… lạt

Cuối cùng Chính phủ đã đồng ý thực hiện chính sách mua muối đang tồn đọng để tạm trữ, nhưng chính câu chuyện muối tồn đọng này trong năm nay đã cho thấy sự lúng túng của các cơ quan quản lý nhà nước trong bảo hộ ngành muối khi Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO).
 
Sau khi Việt Nam trở thành thành viên của WTO, một quan chức Bộ Thương mại cũ, nay là Bộ Công Thương nói với tôi, đại ý sau này khi hàng hóa nước ngoài tràn vào Việt Nam theo xu thế mở cửa thì những mặt hàng nhạy cảm, dễ bị tổn thương, dễ bị tác động nhất chính là muối, đường, bông vải.
 
Ấy vậy nên khi đàm phán, Việt Nam theo đuổi chính sách bảo hộ cho sản xuất các mặt hàng này trong nước bằng giải pháp hạn ngạch thuế quan (nhập trong hạn ngạch thì thuế thấp, ngoài hạn ngạch thì thuế cao) dựa trên cung cầu nội tại của sản xuất và tiêu thụ trong nước. Cam kết giữa Việt Nam và WTO cũng thể hiện điều đó.
 
Mấy năm qua, hàng năm, căn cứ trên cân đối cung cầu muối sản xuất trong nước và thị trường tiêu thụ của ngành nông nghiệp, Bộ Công Thương công bố hạn ngạch thuế quan nhập muối hàng năm. Năm nay cũng vậy nhưng không hiểu sao, muối dư thừa, nông dân không bán được, ngành nông nghiệp thì đề xuất mua tạm trữ, bên công thương cấp hạn ngạch khi thì nhập 200.000 tấn muối, lúc thì đổi lại thành 270.000 tấn.
 
Nếu tính giá muối đang rẻ như cho hiện nay là 600 đồng/kg ở vùng muối nổi tiếng nhất nước là Ninh Thuận thì giá trị ngành muối chỉ 4.200 tỉ đồng, ngang với doanh thu của một tổng công ty nhà nước cỡ nhỏ nhưng báo chí tốn không ít giấy mực cho việc muối thừa chất đống ở đồng muối mà ngành công thương thì cứ cho nhập khẩu muối. Tới mức Bộ Công Thương phải tổ chức họp báo giải thích với dư luận, còn đại biểu Quốc hội thì bức xúc chất vấn trên nghị trường.
 
Trên lý thuyết, các nhà đàm phán Việt Nam khi thương thảo gia nhập WTO nghĩ đơn thuần rằng hạn ngạch thuế quan sẽ giúp bảo hộ được hạt muối, còn trên thực tế hạn ngạch thuế quan thể hiện bằng việc cho nhập muối vào những lúc muối ứ đọng trong nước, đã tác động xấu tới giá muối, dù rằng các quan chức cố giải thích họ chỉ cho nhập một vài loại muối mà trong nước không sản xuất được. Với diêm dân làm muối, thương lái mua muối thì ai mà biết được muối nào nhập, muối nào không, chỉ cần nghe qua là nhà nước cho nhập muối thì thị trường muối có giá rớt ngay.
 
Mấy năm qua, hạt muối trong nước lận đận đủ bề, năm thì dư thừa phải tìm cách xuất khẩu, có năm thì thiếu hụt phải chạy đôn chạy đáo nhập khẩu, nên giá muối thất thường. Ấy vậy nên vùng ven biển duyên hải miền Trung, đồng muối có nơi được san ủi làm hồ ao nuôi tôm ồ ạt, tới khi dịch bệnh tôm sú cứ kéo dài triền miên, diêm dân làm muối thiếu kinh nghiệm nuôi tôm lắm kẻ trắng tay, lại để ao tôm hoang hóa xen kẻ giữa những đồng muối. Có người khá giả, đầu tư san ủi tạo dựng hồ tôm thành đất làm muối trở lại thì vướng phải cảnh hạt muối mất giá dần.
 
Tôi từng đi qua những đồng muối nổi tiếng ở Ninh Thuận, Hòn Khói của Khánh Hòa hay Sông Cầu ở Phú Yên gần đây, thấy cảnh ao tôm bỏ hoang như da beo loang lỗ giữa đồng muối mà thương cho phận diêm dân.
 
Diêm dân làm muối miền Trung không dùng cụm từ “mặn nhạt”, mà dùng từ “lạt” thay cho nhạt. Cũng hạt muối đó, đồng muối đó nhưng giờ đây, có vẻ hạt muối ở miền Trung đang lạt dần mà lỗi không thuộc về họ. Họ cũng không còn tự hào về hạt muối mình làm ra mà ngày xưa có câu chuyện cổ tích “Muối quý hơn vàng” đã từng tôn vinh hạt muối mặn họ làm ra.

Được cập nhật 22 Tháng Sáu 2010 8:01 CH | Phản hồi (1)

Bản quyền thuộc © Hồng Văn